Bài viết

Tom Hricko Bậc thầy Nhiếp ảnh

Noirfoto rất may mắn khi được bác Tom Hricko nhận lời mời hợp tác với vai trò cố vấn nghệ thuật. Tom không những là một nhiếp ảnh gia lão luyện, mà còn là một nhà đào tạo với lịch sử hoạt động và kinh nghiệm dày dặn. Sắp tới, Noirfoto sẽ cùng Tom thổi một làn gió mới đến nhiếp ảnh Việt Nam. Nhưng trước tiên, mời các bạn cùng làm quen với bác ấy qua bài phỏng vấn này đã nhé!

NF: Mọi thứ bắt đầu như thế nào?

T: Lúc tôi còn bé, ba anh em nhà tôi luôn hứng thú với nghệ thuật. Vì thế mà bố mẹ chúng tôi luôn có dư dả giấy, mực, và những dụng cụ để vẽ (cũng khá thú vị là anh lớn của tôi là một kiến trúc sư, còn em trai tôi lại là một thợ in ấn). Và bố tôi cũng có một bộ dung cụ rọi ảnh cơ bản nữa. Lúc tầm 12 tuổi, tôi hay thích nghịch thử với những tấm âm bản chụp gia đình, để rọi chúng .   Đến thời vào đại học thì tôi theo đuổi ngành Hội họa và Sư phạm Nghệ thuật. Nhưng rồi sau hai năm, mọi thứ chững lại khi quân đội kêu gọi tôi nhập ngũ. Cũng vì thế mà tôi không thể vẽ, nên tôi đã sắm một chiếc máy ảnh để thỏa nỗi nhớ được vẽ, rồi cũng không lâu sau mà chiếc máy ảnh trở nên vật bất ly thân.  Rồi  trở về sau hai năm trong quân ngũ, tôi đã chuyển hướng học từ hội họa sang nhiếp ảnh (1969). Tôi bắt đầu từ nhiếp ảnh phóng sự, sau đó chuyển sang chụp phong cảnh trên máy khổ lớn.

NF: Điều gì đã khiến ông đến và sinh sống ở Việt Nam? Nguồn cảm hứng của ông khi ở đây là gì?

T: Tôi từng có một người bạn gái người Việt lúc năm 1994, cô ấy rời Việt Nam sang Pháp và rồi đến Mỹ khi còn thiếu nữ. Đến lúc này thì cô ấy có mong muốn được hồi hương, và cô đã làm như thế. Không lâu sau khi tìm được một công việc tiếp thị, cô bạn gái đã gọi và bảo tôi hãy sang Việt Nam đi. Đây là khi đúng lúc tôi đang chán nản với tất cả công việc xung quanh tôi, từ việc giảng dạy đến những buổi triển lãm công nghiệp ở phòng trưng bày thương mại mà tôi làm bấy giờ. Tôi cần một kì nghỉ, trốn chạy tất cả mọi thứ, kể cả nhiếp ảnh. Thế nên tôi đã thanh lý hết mọi tài sản, đóng chỉ một chiếc vali, và chỉ vậy tôi đã đặt chân sang Việt Nam. Để tóm tắt câu chuyện dài: một năm sau, cô bạn gái quay về Mỹ, còn tôi vẫn ở Việt Nam đến tận bây giờ.

Nguồn cảm hứng của tôi không chỉ ở Việt Nam, mà từ mọi thứ, nó có thể là một thứ gì đó tôi nhìn thấy khiến tôi thích thú, hoặc cũng có những ý tưởng vu vơ vô tình đến với . Mà cũng có thể là sự kết hợp của cả hai. Trong nhiếp ảnh, và trong cuộc sống cũng thế, tôi thích những điều cơ duyên mang tới, thay vì phải đi truy tìm chúng. 

NF: Những tác phẩm của ai ảnh hưởng đến ông nhiều nhất? 

T: Sự ảnh hưởng là một thứ vô định, chúng đến rồi đi, có khi quay lại, nhưng cũng có thể thay đổi. Nguồn cảm hứng đầu tiên của tôi là hai người thầy nhiếp ảnh của tôi. Một người là nhiếp ảnh gia phóng sự, còn người kia là nhiếp ảnh gia phong cảnh. Người thầy thứ nhất đã giúp tôi biết đến những tác phẩm của W. Eugene Smith, không chỉ biết đến những bức ảnh tuyệt vời của ông ta, mà cả sự chìm đắm của ông vào chủ thể. Những kỹ thuật in rọi của Smith cũng đã quyến rũ tôi. Cũng qua người thầy này mà tôi đã biết tới Paul Strand. Người thầy còn lại thì đã mang tôi đến với những bức phong cảnh kỳ bí của Paul Caponigro, một nhân vật đã ảnh hưởng rất nhiều tới tôi. Một vài nguồn cảm hứng khác là Edward Weston với những bức ảnh tĩnh vật, những toà nhà u ám của Atget, hay những ánh nhìn đầy tư duy của Walker Evans. Đây chỉ là vài ví dụ đã cho tôi thấy được khả năng của chất liệu nhiếp ảnh. Tôi cũng muốn nhắc tới John Cohen, một nhiếp ảnh gia, nhà làm phim, một nhà âm nhạc dân tộc học, đã quá cố. John từng là trưởng khoa nhiếp ảnh ở Trường Đại học Tiểu Bang New York ở Purchase, thời mà tôi vẫn dạy học ở đấy năm 1989-1994. Tôi có thể lắng nghe ông ấy nói hằng giờ liền, nhất là những câu chuyện kể của ông về âm nhạc và nghệ thuật ở New York thời năm 60’, chính là nơi và lúc mà ông ấy đã chụp được một Bob Dylan còn rất trẻ.  

NF: Ông đã có rất nhiều tác phẩm mà giờ đang nằm trong những bộ sưu tập cá nhân lẫn doanh nghiệp. Và ông cũng có hoạt động đào tạo nhiếp ảnh, cũng từng là giám tuyển và giám khảo cho Ủy ban Nghệ thuật tiểu bang Connecticut, còn từng cố vấn kỹ thuật cho Mona Berman Fine Arts, và giờ là cố vấn nghệ thuật cho Noirfoto nữa. Nhiều việc thế này! Ông lấy động lực từ đâu để làm hết bao việc như thế?

T: Tôi không nghĩ trong bản thân tôi có gì đó thúc đẩy cả. Trong cuộc sống của tôi có hai thứ tất yếu: tạo ra những bức ảnh và đặt được bữa ăn lên bàn. Chúng tạo nên một sự cân bằng giữa việc kiếm sống và dành ra được đủ thời gian, vật liệu, và môi trường để sáng tác. Công việc kiếm sống cứ càng liên quan đến nghệ thuật hay nhiếp ảnh, thì tôi lại càng dễ thở hơn. Dĩ nhiên vì thế, tôi quyết định dạy về nhiếp ảnh, và làm việc cùng một phòng trưng bày. Quy cho cùng thì là để duy trì được việc làm ảnh của bản thân. 

NF: Dù không thể phủ nhận rằng ông là một bậc thầy trong nhiếp ảnh truyền thống, thực hành của ông lại dần chuyển sang phương thức kỹ thuật số. Ông có thích cái nào hơn không? Rồi tại sao ông lại có bước đổi này?

T: Thời mà tôi vừa sang Việt Nam, máy ảnh kỹ thuật số lúc bấy giờ rất đắt đỏ, mà có mua được thì cũng chẳng tốt lắm. Tuy thế, vì tò mò nên năm 2006, tôi đã mua thử một con Canon IXY Digital 50 có 4 megapixel, chất lượng của nó rất là khá. Đến năm 2011 thì tôi mua được một chiếc Olympus loại M4/3, và từ đó trở nên nghiêm túc với nhiếp ảnh kỹ thuật số. Kể từ đó tôi chẳng còn chụp film nữa. Bây giờ thì tôi dùng một con Sony cỡ APS-C và còn đang đắn đo một chiếc máy ảnh medium format nữa. 

Còn về thích cái nào hơn thì là quy trình kỹ thuật số, nhưng tôi vẫn ưa thành phẩm thủ công hơn. Có lẽ tuổi tác đã khiến tôi lười biếng, thế nên tôi thích cái tính tức thì của kỹ thuật số. Tôi không còn kiên nhẫn như lúc còn trẻ nữa, và tôi cần phải thấy ngay những ý tưởng để còn biết đường mà xử lý chúng. Công đoạn tráng rửa, chọn lọc, và in rọi ảnh, chúng không còn hấp dẫn tôi nữa, nó tốn quá nhiều thời gian. Biết đâu là vì tôi cảm thấy thời gian không còn nhiều nữa, và tôi cần phải càng làm nhiều ảnh càng tốt? Có khi thế lắm. Dẫu vậy, tôi chưa bao giờ in được một bức ảnh nào từ ảnh số mà đẹp so bì được với ảnh rọi từ âm bản phim lên giấy ảnh fiber cả. Nét sắc cạnh của những hạt tinh thể bạc vẫn là thứ tôi yêu thích, kể cả khi bức ảnh đó được số hoá rồi in phun. Những cách mô phỏng hiệu ứng của phim tôi cũng đã thử qua, nhưng kết quả thì đâu có được những phẩm chất đặc biệt như những tấm ảnh 4×5 hay Rolleiflex của tôi. Thực chất, tôi còn chưa bao giờ thấy bức ảnh số nào, bất kể từ cảm biến cỡ nào, có được cái vẻ của phim cả.

NF: Trong thời đại số này, ông có thấy kỹ nghệ nhiếp ảnh có phần nào bị mất đi không? Một nhiếp ảnh gia KTS có thiếu sót gì so với một nhiếp ảnh gia truyền thống không?

T: Thật may mắn vì tôi đã có hơn hai mươi năm nhiếp ảnh trước thời đại số, từ đó mà tôi có được những nhận thức về ảnh như bây giờ.  Tôi khó có thể hình dung được ai có thể trở thành một nhiếp ảnh gia nào mà lại chưa từng trải qua những công đoạn làm ảnh thủ công. Chắc chắn là nếu tôi chưa trải qua bấy nhiêu thời gia với phương thức thủ công, thì tôi đã chẳng nên được như con người ngày hôm nay. Có vẻ như nhiếp ảnh đã trở nên thiên hình thức hơn là về vật thể. Cũng chỉ tương đối gần đây mà nền tảng chủ yếu cho tác phẩm của tôi trở thành kỹ thuật số. Đây không hẳn là một điều không tốt, thật ra chính vì chiếc màn hình, nó ở mọi nơi, mà tác phẩm của tôi vươn tới được với nhiều người hơn đấy chứ. Kể cho vậy, có bảo tôi là một ông cậu hoài niệm cũng được, nhưng tôi khá lấy làm tiếc cho những nhiếp ảnh gia mà chưa từng trải nghiệm cảm giác phòng tối, để thấy những bức ảnh hiện hình một cách kỳ diệu ngay trước mắt. Cảm giác đấy cũng rất kỳ diệu, và tôi tin rằng chính vì thiếu mất nó, mà những nhiếp ảnh gia số cũng yếu kém hơn. Cái sự kỳ diệu ấy giờ đây hầu như chẳng còn nữa, nhưng những người chưa biết tới nó thì cũng chẳng biết rằng họ đang thiếu gì cả đâu. Tôi đằng khác, thì rất mừng là tôi có nó. 

NF: Vì đâu mà ông quyết định hợp tác với Noirfoto và VG Lab? 

T: Chắc lần đầu tôi thấy ai nhắc tới VG Lab là trên Facebook. Sau đó tôi đến gặp Danny (anh Bạch Nam Hải) và lập tức nhận ra anh ta rất hiểu biết và tâm huyết, lại còn thân thiện và chu đáo nữa chứ. Còn lại thì các bạn biết rồi đấy. Anh ta không ngừng tiến bộ.

Còn lần đầu tôi nghe nhắc đến Noirfoto là từ một người cùng trong hội bảo toàn kiến trúc mà tôi có tham gia. Tôi đã thiết nghĩ ai lại đủ điên rồ để vẫn cuồng đắm với ảnh thủ công trong cái thời buổi này thì ắt hẳn là một nhân vật thú vị lắm, nhưng cho cùng tôi cũng đã đến và làm quen với Ngọc. Một lần nữa cơ duyên lại dẫn dắt tôi.

Tác phẩm từng triển lãm tại Noirfoto Group Show 2020

Vũ Trần

viết cho Noirfoto


Vũ đang theo đuổi ngành học Phê bình Truyền thông và Hoạt động Thời trang tại Đại học Mỹ thuật London – UAL. Mối quan tâm của Vũ hướng về những tác động của nghệ thuật đối với cá nhân và xã hội, và Vũ luôn nỗ lực hướng tới việc thúc đẩy mọi người phát triển quan điểm riêng biệt.